Năm học 2013-2014

Thông tin
Giúp em học tốt
Thăm dò ý kiến
Theo bạn chương trình tiểu học hiện nay là:
Hỗ trợ trực tuyến
 BẢN TIN TRONG NGÀY  
Thống kê
Bài viết 1,112
Trực tuyến 6
Truy cập 426,350
Giới thiệu nhà trường , Lịch sử Truyền Thống
Cô Huỳnh Thị Việt
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên đề tài:   
 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH GIẢI TOÁN CÓ VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP BA.

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
    1.Tầm quan trọng , thực trạng và lí do chọn đề tài:
Chương trình toán 3 là một bộ phận của chương trình toán tiểu học. Chương trình này tiếp tục thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học ở các lớp 1và 2; khắc phục những tồn tại của dạy toán lớp 1,2,3 theo chương trình cũ; góp phần thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nhằm đáp ứng những yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong chương trình dạy-học toán ở tiểu học, thì chương trình toán lớp 3 đóng một vai trò trọng yếu. Lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu của bậc tiểu học, do vậy cần phải chuẩn bị đầy đủ kiến thức cơ sở để học sinh học tốt giai đoạn cuối của bậc tiểu học và làm nền tảng cho các cấp học sau này.

Ở lớp ba cùng với việc học các phép tính cộng trừ nhân, chia trong phạm vi 100, 1000,10000,100000 học sinh  bắt đầu làm quen và giải loại toán hợp Bài toán giải bằng hai phép tính( cộng, trừ, nhân, chia) từ những loại toán đơn nên các em còn ngỡ ngàng Qua 7 năm dạy thay sách lớp 3, trên thực tế của lớp tôi có một số em giỏi toán và một số em học toán chậm, nhất là loại toán giải có văn.Trong từng tiết học, để những học sinh yếu này tiếp thu, giải được những bài toán có lời văn là cả một vấn đề khó khăn. Các em thường rất ngại làm bài, sợ giải toán vì khả năng tư duy (phân tích, tổng hợp) của các em có nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, các em còn vội vàng, hấp tấp, đơn giản hoá vấn đề nên đôi khi chưa đọc kĩ đề, chưa hiểu kĩ đề đã vội vàng làm bài, dẫn đến kết quả còn nhiều khi sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ.Với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục, phát triển nhân cách cho học sinh,  góp phần nâng cao chất lượng học tập của các em đồng thời nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, trong quá trình giảng dạy tôi đã đúc kết Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có văn trong chương trình toán 3.

   2. Giới hạn nghiên cứu:

- Chương trình toán ba, phương pháp dạy toán.
- Giáo viên và học sinh khối ba trường Tiểu học Lương Thế Vinh


II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

     1. Điều tra và phân loại học sinh yếu kém ở lớp và có biện pháp giúp đỡ:
Sau đợt khảo sát chất lượng đầu năm, đối với học sinh yếu kém trong môn toán, tôi tiến hành phân loại từng em. Đối với những em kém loại toán giải có văn, tôi có kế hoạch kèm cặp, hướng dẫn phương pháp giải toán kịp thời cho từng em.
    Lớp tôi có em Minh Huy, Minh Quang, Vân, Khang, Bắc ,Trung ,Phước, Hưng... là những em giải toán có văn còn yếu. Các em thường sợ loại toán này. Các em không biết giải, thường trả lời sai, làm tính không đúng. Tôi luôn quan tâm động viên các em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, tìm cách giải đúng.

    Trong các giờ lên lớp, tôi luôn động viên các em đọc đề kỹ, phân tích đề suy nghĩ tìm ra mối quan hệ giữa dữ kiện  đã cho và dữ kiện phải tìm bỏ qua những chi tiết thứ yếu, những chi tiết không cần thiết mà tập trung vào những chi tiết chủ yếu bản chất để tìm ra cách giải. Tôi dành nhiều thời gian hơn trong việc kiểm tra bài làm của các em này trên lớp, thường xuyên chấm, chữa trực tiếp với học sinh để củng cố kiến thức. Tuyên dương khen thưởng kịp thời bằng điểm số nếu các em có cố gắng để các em phấn khởi học tập, xoá dần đi ấn tượng sợ giải toán.

    Vào buổi học thứ hai (buổi chiều), tôi yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở buổi thứ nhất (buổi sáng) để các em nắm vững cách giải, lần sau gặp lại loại bài như thế là có thể làm được ngay. Tôi còn yêu cầu phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con em học ở nhà, giúp các em ôn lại vững kiến thức, làm lại thuần thục các bài tập trên lớp. Ngoài ra tôi còn tổ chức đôi bạn học tập, gồm 01 em giỏi toán kèm 01 em yếu môn toán đồng thời duy trì thường xuyên nền nếp truy bài đầu giờ. Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp giải toán.

    2. Rèn kỹ năng giải toán từ dễ đến khó, từ kiến thức cũ đến kiến thức mới:

a/ Hệ thống lại kiến thức ở lớp 1:

Hệ thống lại kiến thức đã học ở lớp 1,2 là tối cần thiết. Ở lớp 1,các em đã học các bài toán đơn giản giải bằng một phép tính cộng hoặc một phép chủ yếu là các bài toán thêm bớt một số đơn vị trừ . Loại toán này đơn giản nhưng cũng phải củng cố cho các em nắm vững thì mới làm được các bài toán trên.

    Ví dụ:
-    Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có mấy con gà?
-    Đàn vịt có 5 con ở dưới ao và 4 con ở trên bờ Hỏi đàn vịt có bao nhiêu con?
-    Lớp 1B có 35 bạn,trong đó có 20 bạn nữ. Hỏi lớp 1B có bao nhiêu học sinh nam?
-    Nhà An có 9 con gà ,mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn mấy con gà?

Đây là những bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính cộng hay tính trừ là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.




b/ Hệ thống lại kiến thức ở lớp 2:
Ở lớp hai các em được ôn lại các dạng toán lớp một và luyện thêm các dạng toán mới. Giải các  bài toán bằng một phép tính cộng hoặc trừ hoặc nhân hoặc chia (trong đó có các  bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị; bài toán nhân, chia).

    Ví dụ:
- Con lợn to cân nặng 92kg, con lợn bé nhẹ hơn con lợn to 16kg. Con lợn bé cân nặng bao nhiêu kg?
- Lan hái được 24 bông hoa, Liên hái được nhiều hơn Lan 16 bông hoa. Hỏi Liên hái được bao nhiêu bông hoa?
-Có 15 kg gạo chia đều vào 3 túi. Hỏi mỗi túi có mấy kg gạo?
- Có 35 quả cam xếp vào các đĩa mỗi đĩa 5 quả cam. Hỏi xếp được vào mấy đĩa?
- Mỗi can đựng 3 lít dầu. Hỏi 5 can như thế đựng được bao nhêu lít dầu?

Đây là các bài toán cũng có dữ kiện cụ thể. Cho học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm ra cách giải, suy nghĩ làm tính cộng hay tính trừ  hay tính nhân hay tính chia là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.Với cách làm này, học sinh mạnh dạn tự tin vào bản thân, dần ham thích giải toán, để thể hiện khả năng của chính mình.

Vai trò của người thầy cũng rất quan trọng. Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai, giáo viên cần phải có lời động viên hợp lí. Nếu học sinh phát biểu sai hoặc chưa đúng, giáo viên động viên: "gần đúng rồi, em cần suy nghĩ thêm tí nữa sẽ tìm ra lời giải chính xác ...", giúp các em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, khích lệ các em "không thua cuộc", chứ không nên nói "sai rồi, không đúng..." gây mất hứng thú cho học sinh, làm cho các em tự ti, chán học.
Đây là bước rất quan trọng, giúp các em không sợ giải toán, thích thi nhau làm để khẳng định mình, từ đó tạo dựng dần kỹ năng giải toán vững chắc với lời giải thông thường ở lớp 1, 2.

    3. Định hướng cho học sinh giải toán ở lớp 3:

    Ở lớp 3, giáo viên cần định hướng cho các em giải được các bài toán từ có dữ kiện cụ thể sang bài toán giải bằng 2 phép tính; bài toán liên quan đến rút về đơn vị; bài toán gấp 1 số lên nhiều lần, giảm 1 số đi nhiều lần; bài toán so sánh 2 số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị; bài toán so sánh số lớn gấp mấy lần số bé, số bé bằng một phần mấy số lớn; các bài toán có nội dung hình học (tính chu vi, tính diện tích...)

    Hướng dẫn học sinh đọc đề, phân tích đề:
    Đọc đề phân tích đề là một khâu rất quan trọng của bài toán giải. Trình trạng phổ biến hiện nay trong phần lớn học sinh là đọc đề không kĩ, chưa chịu phân tích đề nên dẫn đến làm bài bị sai sót nhiều.
    Yêu cầu Học sinh đọc đề nhiều lần, phân tích mối quan hệ giữa dữ kiện đã biết và dữ kiện chưa biết để giải đúng, bằng cách phân tích đề theo hướng tổng hợp... Và trong bài soạn cũng như trong mỗi tiết học giáo viên dạy theo từng nhóm học sinh, nêu câu hỏi phù hợp với từng nhóm đối tượng.
   
    Ví dụ1:
    Một cuộn vải dài 81 m, người ta đã bán  cuộn vải. Hỏi cuộn vải còn lại mấy m?
         Giáo viên hướng dẫn HS phân tích đề toán
•    Đề bài cho biết gì?( cuộn vải dài 81 m, đã bán được  cuộn vải)
•    Đề bài hỏi gì?( cuộn vải còn mấy m?)
•    Muốn tìm cuộn vải còn mấy m ta làm như thế nào?(lấy số vải có – số vải đã bán)
•    Cuộn vải có mấy m? ( có rồi, 81m)
•    Số vải đã bán có chưa?(Chưa có)
•    Ta làm thế nào?( đi tìm số vải đã bán)
•    HSTB: Số vải đã bán quan hệ thế nào với số vải trong cuộn vải?(đã bán được  cuộn vải)
                 Đi tìm  cuộn vải tức là tìm một phần mấy của một số ta làm thế nào?(lấy số vải trong cuộn chia 3)
               + Gọi HS nêu bài giải theo hướng ngược lại.
Bài giải:
Số vải đã bán là:
81: 3 = 27(m)
Số vải còn lại là:
81- 27 = 54(m)
                                                     Đáp số: 54m

Ví dụ 2:

Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ, mỗi tủ 4 ngăn. Hỏi mỗi ngăn có bao nhiêu quyển sách, biết rằng mỗi ngăn có số sách như nhau?

Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, phân tích tách riêng từng câu của  đề bài theo  hướng từ  đầu đến cuối.
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ ta tìm được gì?( Số sách mỗi tủ là 240:2 = 120 (quyển))
Mỗi tủ có 120 quyển  mà  mỗi tủ có 4 ngăn ta tìm được gì?( Số sách mỗi ngăn là 120:4=30(quyển))
Bài giải:
Số sách mỗi tủ là
240:2=120 (quyển)
số sách mỗi ngăn là:
120:4=30(quyển)
Đáp số:30 quyển

*Với bài toán có nhiều câu hỏi:
Ví dụ:
  Năm nay em 6 tuổi, chị 12 tuổi. Hỏi:
a.    Chị hơn em bao nhiêu tuổi?
b.    Tuổi chị gấp mấy lần tuổi em?
c.    Cả hai chị em có bao nhiêu tuổi?
    Đối với bài này, giáo viên phải hướng  dẫn học sinh giải  tương ứng với yêu  cầu  của từng câu hỏi:
Bài giải:
Số tuổi chị hơn em là:
12 - 6 = 6 (tuổi)
Tuổi chị gấp tuổi em một số lần là:
12 : 6 = 2 (lần)
Cả hai chị em có số tuổi là:
12 + 6 = 18 (tuổi)
Đáp số:     a. 6 tuổi
        b. 2 lần
           c. 18 tuổi

    Giáo viên phải nhấn mạnh cho học sinh một lời giải, một phép tính. Có bao nhiêu câu hỏi, có bấy nhiêu đáp số (chú ý cả tên đơn vị).

    *Với yêu cầu giải toán thông thường:

- Nhiều hơn một số đơn vị :     Làm tính cộng
- Ít hơn một số đơn vị        :       Làm tính trừ
- Gấp một số lên nhiều lần :       Làm tính nhân
- Giảm đi một số lần          :       Làm tính chia

- So sánh số lớn hơn số bé bao nhiêu đơn vị: Làm tính trừ
- So sánh số bé ít  hơn số lớn bao nhiêu đơn vị: Làm tính trừ
- So sánh số lớn gấp mấy lần  số bé: Làm tính chia
- So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn: Làm tính chia như “So sánh số lớn gấp mấy lần  số bé” và thêm một câu kết luận
-Các bài toán về ý nghĩa của phép nhân phép chia

Sau khi rèn luỵên một số bài toán cơ bản, để phát triển tư duy của học sinh, tôi nâng cao hơn một bước bằng cách thông qua bài toán "gốc"có dạng trên tôi  cho học sinh nâng cao tư duy lên một bước với những dữ kiện trên mà cách giải lại làm ngược lại với phép tính trên( vì người ta cho số bé, yêu cầu tìm số lớn)
- Ít hơn một số đơn vị :         Làm tính cộng
- Nhiều hơn một số đơn vị:     Làm tính trừ
- Gấp một số lần:             Làm tính chia
- Giảm một số lần:         Làm tính nhân
Ví dụ 1:
Tùng có 15 hòn bi ,Tùng có nhiều hơn Bình 2 hòn bi. Hỏi hai bạn có bao nhiêu hòn bi?
Hướng dẫn HS:  Đề bài cho biết gì? Đề bài hỏi gì?
Để tìm số bi  hai bạn, trước tiên ta phải tìm số bi của ai?(của bạn Bình)
Số bi của bạn Bình liên hệ với số bi của bạn Hùng như thế nào? (Tùng nhiều hơn Bình 2 hòn bi)
Vậy số bi của bạn Bình như thế nào với số bi của bạn Tùng? (ít hơn)
Bài giải:
Số bi của Bình có là:     15 - 2 = 13 (hòn bi)
Số bi của hai bạn có là:     15 + 13 = 28 (hòn bi)
        Đáp số:        28 hòn bi

Ví dụ 2:
Thuỳ có 30 que tính, Thuỳ có gấp 3 lần Hà. Hỏi hai bạn có tất cả bao nhiêu que tính.
Bài giải:
Số que tính của Hà là:    30 : 3 = 10 (que tính)
Số que tính của hai bạn là:    30 + 10 = 40 (que tính)
        Đáp số:    40 que tính

Ví dụ 3:
    Lớp 3/2 có   số học sinh của lớp tham gia lao động, biết số học sinh tham gia lao động là 7 em. Hỏi lớp 3/2 có tất cả bao nhiêu em?

Với biện pháp này, các em được nâng cao trình độ tư duy lên một bước. Từ đó các em chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kĩ năng giải toán có lời văn rõ ràng, chính xác.

*Đối với các bài toán có nội dung hình học:

Yêu cầu  HS trước tiên phải hiểu và thuộc công thức tính chu vi, diện tích và biết vận dụng vào từng trương hợp kết hợp với vốn sống, vốn hiểu biết của mình.

Ví dụ1:
Mỗi viên gạch hình vuông có cạnh 20cm. Tính chu vi hình chữ nhật ghép bởi 3 viên gạch như thế?
Muốn tìm được chu vi hình chữ nhật ghép bởi ba viên gạch hình vuông cạnh 20 cm, ta phải tìm chiều dài , và chiều rộng là bao nhiêu?
Chiều rộng ? ( Chiều rộng chính là cạnh hình vuông)
Chiều dài ? (Chiều dài chính là chiều dài 3 cạnh viên gạch hình vuông)
Từ đó ta tìm được chu vi hình chữ nhật.

Ví dụ 2:
Tính chiều dài hình chữ nhật , biết nửa chu vi hình chữ nhật là 60m và chiều rộng là 20m.

Sau khi hướng dẫn học sinh giải, để những học sinh có năng khiếu về toán phát huy khả năng của mình, giáo viên có thể nâng cao thêm một bước bằng bài toán.

 Tính chiều dài hình chữ nhật , biết  chu vi hình chữ nhật là 60m và chiều rộng là10m.
Những học sinh  giỏi sẽ phát hiện ra cần phải tìm nửa chu vi hình chữ nhật trước rồi tiếp tục giải như bài toán trên.

    4. Giúp học sinh trình bày bài giải đúng:

    Từ tư duy đúng, các em tìm được lời giải phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi đáp số đúng.
    Bước này tuy đơn giản nhưng vẫn tương đối khó với học sinh lớp 3. Lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời theo thứ tự: Lời giải - phép tính - đáp số.
    Cần lưu ý: Phép tính trong giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị đó là phép tính trên số nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn để giải thích mục đích thực hiện phép tính.
    Ví dụ: Có 70 tập giấy, gói đều thành 7 bọc. Hỏi có 100 tập giấy sẽ gói được bao nhiêu bọc như thế.


    Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bài:
        Tóm tắt:     70 tập: 7 bọc giấy
                100tập: bọc giấy ?
    Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác:
    Số tập giấy 1 bọc có là:    70 : 7 = 10 (tập)
    Số bọc giấy của 100 tập là:  100 : 10 = 10 (bọc)
                Đáp số: 10 bọc

Lưu ý: Đây là bài toán hợp, liên quan đến việc rút về đơn vị. Tên đơn vị của hai phép tính khác nhau. Phép tính trên có tên đơn vị đại lượng 1. Phép tính dưới  có tên đơn vị của đại lượng 2(đại lượng phải đi tìm chính là đáp số bài toán).

5. Giúp học sinh tư duy, sáng tạo
Vào buổi thứ hai trong ngày để phát huy tính sáng tạo, óc quan sát sự suy nghĩ và cũng để kiểm tra kiến thức của học sinh. Giáo viên có thể cho học sinh tự nêu câu hỏi trong đề toán mà những dữ kiện giáo viên đã cho sẵn

Ví dụ 1: Gà có 18 con , vịt có 6 con. Hỏi....?
Cho học sinh tự nêu câu hỏi, mỗi em một câu không trùng nhau để bài toán giải bằng một phép tính, sau đó nêu cách giải ứng với từng câu hỏi.
HSA:  Gà hơn vịt bao nhiêu con?
HSB: Gà ít hơn vịt bao nhiêu con?
HSC: Số gà gấp số vịt bao nhiêu lần?
HSD: Số  vịt  bằng một phần mấy số gà?
HSE: Gà và  vịt có bao nhiêu con?
HSG: Số vịt bằng số gà giảm đi mấy lần?

Tương ứng với mỗi câu hỏi là một bài toán đơn và bắt buộc  học sinh suy nghĩ tìm ra cách giải, như vậy ta vừa kiểm tra được kiến thức của học sinh vừa ôn tập  các dạng toán đã học qua cho các em.
Ví dụ 2:
Cửa hàng có 369 chiếc xe, người ta đã bán   số xe. Hỏi...?
Để bài toán giải bằng 1 phép tính thì đặt câu hỏi như thế nào? Học sinh sẽ tự nêu câu hỏi.
VD: Người ta đã bán bao nhiêu xe?
Để bài toán giải bằng 2 phép tính thì đặt câu hỏi như thế nào? Học sinh sẽ tự nêu câu hỏi.
VD: Cửa hàng  còn  bao nhiêu xe?
Tương tự với những dạng toán khác.

    6. Giúp học sinh tìm nhiều cách giải:

Tính cách giải đúng là chưa đủ, giáo viên còn cần phải giúp học sinh tìm nhiều cách giải. Từ đó chọn cách giải hợp lý, ngắn gọn nhất, phát huy trí lực học sinh, tạo điều kiện cho tư duy toán phát triển.

Bước này đối với học sinh trung bình hoặc yếu là rất khó khăn. Vì vậy giáo viên phải tìm cách hướng dẫn, gợi mở, kể cả động viên kịp thời để giúp học sinh từng bước rèn luyện kĩ năng giải toán của mình.

Ví dụ1:
 Một cửa hàng ngày thứ nhất bán được 6 xe đạp, ngày thứ hai bán được số xe đạp gấp đôi số xe đạp trên. Hỏi cả hai ngày, cửa hàng đó đã bán được bao nhiêu xe đạp?
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài và tóm tắt bằng cách vẽ sơ đồ (nếu vẽ được) để tìm ra cách giải đúng và nhiều cách khác:

Tóm tắt:    Ngày thứ nhất:
? xe
        Ngày thứ hai:                           

Bài giải:
    Cách 1:                        Số xe đạp bán trong ngày thứ hai là:
6 x 2 = 12 (xe)
Số xe đạp bán trong cả hai ngày là:
12 + 6 = 18 (xe)
Đáp số:    18 xe đạp

    Cách 2:
Giáo viên cho học sinh nhìn vào sơ đồ và hướng dẫn: Nếu coi số xe đạp ngày thứ nhất bán được là 1 phần thì số xe đạp ngày thứ hai bán là 2 phần như thế. Mỗi phần đều là 6 xe đạp.
Sau đó cho học sinh tự giải:
Bài giải:
Tổng số phần bằng nhau là:
1 + 2 = 3 (phần)
Số xe đạp bán trong cả hai ngày là:
6 x 3 = 18 (xe)
Đáp số:  18 xe đạp
Ví dụ 2:
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ, mỗi tủ 4 ngăn. Hỏi mỗi ngăn có bao nhiêu quyển sách, biết rằng mỗi ngăn có số sách như nhau?
Cách 1:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, phân tích tách riêng từng câu của  đề bài theo  hướng từ  đầu đến cuối.
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ ta tìm được gì?( Số sách mỗi tủ là
240:2=120 (quyển))
Mỗi tủ có 120 quyển  mà  mỗi tủ có 4 ngăn ta tìm được gì?( Số sách mỗi ngăn là 120:4=30(quyển))
Bài giải:
Số sách mỗi tủ là
240:2=120 (quyển)
số sách mỗi ngăn là:
120:4=30(quyển)
Đáp số:30 quyển

Cách 2:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, phân tích tách riêng từng câu của  đề bài  từ  giữa.
2 tủ, mỗi tủ 4 ngăn ta tìm được gì? ( Số ngăn của hai tủ là 2 4 = 8 ngăn)
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ (8 ngăn) ta tìm được gì?( Số sách mỗi ngăn là 240:8=30(quyển))
Bài giải:
Số ngăn sách hai tủ là
2 4 = 8( ngăn)
số sách mỗi ngăn là:
240:8=30(quyển)
Đáp số:30 quyển

`    Để thực hiện được nhiều cách giải, giáo viên phải yêu cầu các em thật chú ý đến yêu cầu của đề, hiểu kỹ đề, tên đơn vị của mỗi phép tính; phải gợi ý dần dần, từng bước để các em suy nghĩ tìm ra cách giải. Động viên kịp thời những em có ý tưởng, cách giải hay. Phân tích, điều chỉnh lại những cách giải không phù hợp.


    7. Rèn luyện kỹ năng tính toán, tránh nhầm lẫn khi tính toán:


    Trong thực tế, nhiều em học sinh tiếp thu, hiểu đề nhanh và biết chọn cách giải đúng, tuy nhiên lại hay tính toán sai, dẫn đến không đúng đáp số. Vì vậy giáo viên phải nhắc nhở học sinh khi làm bài phải luôn tính toán thật cẩn thận, không chủ quan; phần trình bày phải khoa học, rõ ràng. Nếu là các phép tính cộng, trừ, nhân, chia nằm trong bảng, phải học thuộc lòng để vận dụng nhanh. Nếu ở ngoài bảng, các em phải thận trọng đặt phép tính theo cột dọc. Làm ngoài giấy nháp, kiểm tra kết quả, nếu tự tin là đúng mới chép vào vở.

Bên cạnh, đó giáo viên cần rèn luyện kỹ năng tính nhẩm, từ đơn giản đến phức tạp để giúp các em thực hiện nhanh hơn quá trình giải toán đồng thời trang bị thêm một số kinh nghiệm trong việc kiểm tra lại kết quả sau khi hoàn thành bài toán. Điều này sẽ giúp các em hạn chế sai sót trong quá trình làm bài và cũng là điều kiện để rèn luyện kỹ năng tính toán, tính cách cẩn thận cho học sinh.


III/ KẾT LUẬN:

    Trong năm học qua, từ những biện pháp này, tôi đã giúp khá nhiều học sinh trung bình về giải toán có nhiều tiến bộ rõ rệt. Các em từ chỗ sợ học toán, ngại giải toán đến chỗ các em đã không còn sợ và ngại giải toán nữa.
    Đầu năm học lớp tôi có một số em yếu toán như: Bắc , Phước, Minh Huy, Minh Quang, Hưng, Tâm, ... đã dần tiến bộ.  Các em có được khả năng phân tích, tổng hợp để tìm ra cách giải toán. Điểm kiểm tra giữa học kỳ và cuối học kỳ đã đạt kết quả như sau:

   
                Tên h/sinh
Điểm    Trung    Phước    Huy    Quang    Hưng    Vân
Khảo sát CL ĐN    4    4    5    6    5    5
Giữa kỳ I    7    6    8    8    8    7
Cuối kỳ I    8    8    9    9    9    8
Giữa kỳ II                       
Cuối kỳ II                       


Ngoài sự tiến bộ của các em trên, tỉ lệ học sinh khá, giỏi về môn toán của cả lớp cũng tăng lên đáng kể, thể hiện qua bảng sau:


XÕp lo¹i    KSCL
ĐN    GIỮA KÌ I    CUỐI KÌ I    GIỮA KÌ II    CUỐI KÌ II    CẢ NĂM
    SL    TL    SL    TL    SL    TL    SL    TL    SL    TL    SL    TL
Giỏi    18    53.6    23    71.0    27    79.4                       
Khá    10    29.0      8    23.2    7    17.7                       
Trung bình    4    11.6    2    5.8    1    2,9                       
Yếu    2    5.8    0    0    0    0                       
   
(Hai bảng thống kê trên chưa có kết quả giữa kỳ II)

Những con số thống kê này cũng thể hiện được phần nào thành công bước đầu của tôi qua gần một năm áp dụng một số kinh nghiệm như ở phần trình bày trên.

IV/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
    Trên cơ sở kết quả đạt được của học sinh, tôi rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:

    - Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải xác định chính xác năng  lực, trình độ của học sinh từ đó phân loại học sinh để dạy theo hướng phân hóa đối tượng, chú trọng nhiều đến đối tượng học sinh trung bình, khá. Trong mỗi tiết học giáo viên cần quan tâm đến từng đối tượng HS tùy theo trình độ, tố chất của các em. Giáo viên cần nêu những câu hỏi, bài toán vừa với sức học, tránh những yêu cầu quá dễ hoặc quá khó làm cho HS  giỏi, khá  thấy nhàm chán, hoặc ngược lại tạo tình trạng căng thẳng cho HS trung bình, yếu kém từ đó dễ nảy sinh tâm lý chán nản, lười biếng trong  HS.
    - Dạy học sinh các bài tập từ dễ đến khó, nhất là phân tích các bài toán hợp thành các bài toán đơn trong các mối quan hệ để học sinh tự giải.
    - Chú trọng rèn luyện kĩ năng đọc kỹ đề, phân tích, tìm ra yêu cầu một cách đầy đủ và chính xác
     - Rèn kĩ năng tính toán chính xác, những em chưa thuộc bảng nhân, chia, cộng, trừ thì GV qui định thời gian cho các em học và thường xuyên kiểm tra .

    Trên đây là một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc sử dụng các biện pháp để giúp học sinh giải toán có văn trong chương trình toán 3. Rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến chân thành của lãnh đạo và các đồng nghiệp                   
                                                                         Người viết



                    
                                                                      Huỳnh Thị Việt

Đăng nhập
Tin nổi bật
Hình ảnh hoạt động
Liên kết

 
 



Quảng cáo